CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

Kế thừa – Đổi mới – Phát triển

Hành trình 70 năm xây dựng và phát triển của Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp qua ba giai đoạn chính, gắn liền với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực kinh tế – kỹ thuật và tinh thần đổi mới không ngừng.

CÁC CỘT MỐC CHÍNH

Hành trình qua các dấu mốc lịch sử

Mỗi giai đoạn là một dấu mốc ghi nhận những nỗ lực bền bỉ và bước chuyển mình quan trọng. Xuyên suốt chặng đường 70 năm là sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kinh tế – kỹ thuật chất lượng cao; đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển đất nước; cùng với đó là tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng để thích ứng, hội nhập và bứt phá.

GIAI ĐOẠN 3

2007 ĐẾN NAY

Nhà trường đổi mới, hội nhập

Ngày 11/9/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1206/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I theo quy hoạch nâng cấp thành trường đại học giai đoạn 2004 – 2010.

Xem thêm

        Từ năm 1964, Trường liên kết đào tạo với các trường đại học lớn như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên mở ra các lớp đại học tại chức, chuyên tu từ năm 1983, văn bằng hai từ năm 1992 và đào tạo cao học từ năm 1997 để từng bước xây dựng chương trình đào tạo đại học, tiếp cận công nghệ mới và chuẩn bị đội ngũ giảng viên cho giảng dạy bậc đại học. Đây được xem là tiền đề cho việc Nhà trường xây dựng Đề án thành lập Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp trên cơ sở Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I năm 2005.

        Ngay sau khi thành lập, Nhà trường được phép đào tạo 5 ngành đại học đầu tiên gồm: Công nghệ Dệt, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Kỹ thuật Điện, Kế toán và Quản trị kinh doanh. Với chiến lược phát triển và tầm nhìn của Trường hiện nay “Đến năm 2030 trở thành trường đại học định hướng ứng dụng uy tín, nằm trong nhóm hàng đầu cả nước”.

         Trong giai đoạn này, diện tích mặt bằng của Nhà trường được mở rộng thêm tại địa điểm 218 Lĩnh Nam, phường Hoàng Mai, Hà Nội với diện tích 20.000m2 và địa điểm Trung tâm Giáo dục Quốc Phòng và An Ninh, phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình với diện tích lên đến hơn 200.000m2.

          Bước sang một giai đoạn phát triển mới, tập thể lãnh đạo, cán bộ, giảng viên và người học của Nhà trường đã không ngừng phát huy truyền thống, thể hiện tinh thần đoàn kết, quyết tâm đổi mới và phát triển trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Những thành tựu đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển của Nhà trường là sự kế thừa và tiếp nối những giá trị, nền tảng đã được bồi đắp qua nhiều năm hình thành và trưởng thành. Những thành tựu đó thể hiện qua:

Công tác đào tạo và phát triển người học:

+  Nhà trường hiện tổ chức đào tạo đa ngành, đa bậc học, với 27 ngành đào tạo trình độ đại học và 11 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ; triển khai các hình thức đào tạo linh hoạt, bao gồm đào tạo trực tiếp và đào tạo từ xa, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người học.

+  Nhà trường chú trọng xây dựng hệ thống khảo thí hiện đại, minh bạch và khách quan; các quy trình tổ chức thi và đánh giá kết quả học tập được triển khai chặt chẽ, gắn với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển hệ thống ngân hàng đề thi góp phần nâng cao hiệu quả đánh giá năng lực người học.

+  Trong công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, Nhà trường triển khai các hoạt động tự đánh giá; đánh giá ngoài đối với CSGD và nhiều chương trình đào tạo theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam, bộ tiêu chuẩn AUN-QA của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á và các khung đánh giá hiệu quả hoạt động đại học (UPM). Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và khẳng định uy tín của Nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học.

+  Nhà trường triển khai hiệu quả công tác tuyển sinh gắn với đẩy mạnh truyền thông, góp phần quảng bá hình ảnh, thu hút người học và mở rộng quy mô đào tạo. Đồng thời chú trọng quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho sinh viên; tăng cường các hoạt động hỗ trợ người học như học bổng, tư vấn việc làm, kết nối doanh nghiệp và cải cách thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được tổ chức nghiêm túc theo hình thức học tập trung, kết hợp học tập và rèn luyện kỷ luật, góp phần xây dựng môi trường giáo dục chính quy, nền nếp.

– Công tác khoa học, hợp tác và phát triển:

+  Nhà trường thường xuyên rà soát, cập nhật các quy định nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, ưu tiên tổ chức hội thảo chuyên đề và công bố trên các tạp chí quốc tế WoS/Scopus. Riêng trong giai đoạn 2021 – 2025, Nhà trường công bố 2.754 bài báo khoa học, trong đó có 499 bài quốc tế; số lượng công bố WoS/Scopus tăng gần 05 lần so với giai đoạn trước, nhiều bài thuộc nhóm Q1, Q2, đồng thời thành lập 03 nhóm nghiên cứu trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng và định hướng nghiên cứu. Chất lượng các đề tài được cải thiện theo hướng gắn với ứng dụng và chuyển giao thực tiễn, tiêu biểu với 06 giải pháp hữu ích trong lĩnh vực công nghệ vi sinh nông nghiệp. Hoạt động nghiên cứu sinh viên đạt nhiều thành tích nổi bật ở cấp quốc gia và quốc tế, đặc biệt tại các cuộc thi Robocon và khởi nghiệp sáng tạo. Nhà trường từng bước xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, phát triển và triển khai mô hình giáo dục STEM tại các trường phổ thông. Hoạt động học thuật được duy trì thường xuyên với 01 hội thảo quốc tế, 07 hội thảo quốc gia và 193 hội thảo cấp trường. Uy tín Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Trường được nâng cao với 03 lĩnh vực được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm, trong đó lĩnh vực liên ngành Hóa học – Công nghệ Thực phẩm đạt 0,75 điểm, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Nhà trường. Đồng thời, Nhà trường đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học thông qua xây dựng phần mềm và số hóa dữ liệu KHCN. Đặc biệt, đề án “Vườn ươm tiến sĩ” được Nhà trường triển khai như một bước đi chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung bồi dưỡng, hỗ trợ giảng viên nâng cao trình độ học thuật, đặc biệt ở bậc tiến sĩ. Thông qua việc tạo dựng môi trường học thuật thuận lợi, khuyến khích nghiên cứu và hội nhập quốc tế, đề án đã góp phần từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, chất lượng đội ngũ và vị thế học thuật của Nhà trường.

+  Hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường không ngừng được mở rộng và phát triển với nhiều trường đại học, tổ chức và doanh nghiệp uy tín trên thế giới. Thông qua các chương trình hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật. Những hoạt động này góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Nhà trường trong tiến trình hội nhập và phát triển.

– Công tác tổ chức và quản trị:

+  Nhà trường thực hiện xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên theo hướng chất lượng và hiệu quả. Công tác tuyển dụng, sử dụng và bố trí nhân sự được triển khai khoa học, minh bạch, phù hợp với năng lực chuyên môn. Tính đến tháng 01 năm 2026; đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động toàn thời gian của Nhà trường là 805 trong đó tham gia giảng dạy là 711 người gồm 639 giảng viên (05 GS; 34 PGS; 175 TS và 425 Thạc sĩ); 72 trợ giảng và kỹ thuật viên trình độ đại học trở lên. Bộ máy tổ chức được sắp xếp tinh gọn, đồng thời Nhà trường chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và khuyến khích giảng viên nâng cao trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

+  Nhà trường thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy chế đào tạo, học tập và thi cử; đồng thời duy trì công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, kiến nghị theo đúng quy định. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quản lý nội bộ được rà soát, cập nhật kịp thời và các quy định về phòng, chống tham nhũng được triển khai nghiêm túc.

– Công tác quản lý tài chính và đảm bảo điều kiện hoạt động:

+  Nhà trường thực hiện quản lý tài chính công khai, minh bạch, chặt chẽ và bảo đảm sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đồng thời bảo đảm đầy đủ chính sách hỗ trợ sinh viên và cải thiện thu nhập cho cán bộ, viên chức.

+  Nhà trường tạo dấu ấn với bứt phá mạnh mẽ về đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất theo hướng đồng bộ, hiện đại. Hệ thống phòng học, phòng họp, thư viện, xưởng thực hành và Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh,… được xây dựng theo hướng hiện đại, cải tạo và mở rộng diện tích; đầu tư các thiết bị hiện đại đáp ứng thực hiện hiệu quả thời kỳ chuyển đổi số.

+ Công tác hành chính, an ninh được tăng cường, tạo môi trường an toàn, chuyên nghiệp góp phần nâng cao chất lượng quản lý và vận hành.

–  Hoạt động Đoàn thể và phát triển cộng đồng:

+  Công đoàn phát huy vai trò nòng cốt, triển khai nhiều hoạt động sáng tạo, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cho cán bộ, viên chức và người lao động

+  Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát triển đa dạng các phong trào kỹ năng, tình nguyện, thu hút đông đảo cán bộ, viên chức, người lao động và sinh viên tham gia, qua đó tăng cường kết nối cộng đồng và lan tỏa giá trị tích cực.

+ Các hoạt động dịch vụ, truyền thông và phong trào đoàn thể được đẩy mạnh, góp phần xây dựng môi trường làm việc và học tập năng động, thân thiện, gắn kết.

         Nhìn lại chặng đường phát triển, Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp tự hào về truyền thống đoàn kết, đổi mới và nỗ lực không ngừng của nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên, người lao động và sinh viên và đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận như: Huân chương, Bằng khen, Cờ thi đua,…của các cấp trao tặng. Đặc biệt trong năm 2016, Nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Từ nền tảng đó, Nhà trường từng bước khẳng định uy tín, trở thành cơ sở giáo dục đại học có vị thế trong hệ thống giáo dục Việt Nam và là địa chỉ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội.

         Bước vào giai đoạn phát triển mới, Nhà trường tiếp tục định hướng đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, xây dựng môi trường học thuật hiện đại, sáng tạo và nhân văn. Phát huy truyền thống và khát vọng phát triển, Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp quyết tâm vươn lên mạnh mẽ, khẳng định thương hiệu và đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.

GIAI ĐOẠN 2

1992 – 2006

Nhà trường phát triển, đổi mới

Năm 1992, để phù hợp với công cuộc đổi mới, Bộ Công nghiệp Nhẹ tiếp tục sáp nhập Trường Công nhân Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ Hà Nội (trước đó là Trường Công nhân thuộc Nhà máy Dệt 8/3) với Trường Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ Nam Định, lấy tên là Trường Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ. Từ đây, Trường có 2 cơ sở: 456 Minh Khai – Hà Nội và 353 Trần Hưng Đạo – Nam Định.

Xem thêm

Đây là thời kỳ đổi mới sâu rộng của kinh tế – xã hội. Đất nước bước vào thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều này đòi hỏi giáo dục, đào tạo phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu mới của sản xuất. Nhà trường đã tổ chức đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “KTVCC/93”, phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục, Vụ Đại học, Vụ THCN – Bộ Giáo dục & Đào tạo tiến hành nghiên cứu các mô hình đào tạo của các nước Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác, cũng như đòi hỏi của thực tế sản xuất trên phạm vi cả nước, đưa ra loại hình cán bộ “miệng nói tay làm” và đề xuất với Nhà nước cho phép tổ chức đào tạo thí điểm hệ “Kỹ thuật viên cấp cao”, sau này gọi là “Cử nhân cao đẳng kỹ thuật” và tổ chức đào tạo thí điểm trên diện rộng ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam, trên cơ sở liên kết với nhiều trường và các doanh nghiệp trong cả nước.

Kết quả nghiên cứu và kiểm nghiệm cho thấy, học sinh khóa I hệ cao đẳng ra trường về công tác tại các nhà máy, xí nghiệp được khẳng định là phù hợp với yêu cầu sản xuất. Trên cơ sở đó, ngày 24/7/1996, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 478/QĐ-TTg nâng cấp Trường thành Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ, có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trình độ cao đẳng, nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đào tạo đa cấp, đa ngành.

Năm 1998, Trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I. Nhà trường đã tập trung mọi lực lượng, tiếp tục đa dạng hóa loại hình và mở rộng quy mô đào tạo, thường xuyên đổi mới nội dung chương trình, biên soạn mới các tài liệu, giáo trình. Trường đã triển khai đào tạo các ngành nghề mới như: Công nghệ thông tin, Điện tự động hóa, Điện tử, Cơ điện tử, Công nghệ ô tô, Tài chính ngân hàng đối với tất cả các bậc đào tạo, các hệ chính quy, vừa học vừa làm và tổ chức đào tạo liên thông giữa các bậc học.

Nhằm xây dựng và tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, Đảng ủy Nhà trường đã có Nghị quyết riêng về công tác cán bộ, tiến hành xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển đội ngũ đến năm 2015. Các giải pháp chủ yếu của công tác này là tuyển sinh viên tốt nghiệp loại khá trở lên của các trường đại học có uy tín, tổ chức kèm cặp và thử thách trong một thời gian để xác định năng lực thực tế và mức độ tâm huyết với nghề, sau đó lựa chọn và tạo mọi điều kiện cho họ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt.

Chú trọng và đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, coi đó là một nhiệm vụ chính của Nhà trường, Hội đồng Khoa học của Nhà trường được thành lập và nhanh chóng tổ chức triển khai hoạt động. Kết quả trong 11 năm, đã hoàn thành 14 đề tài cấp Bộ, 175 đề tài cấp trường và cấp khoa, không những ứng dụng có hiệu quả trong công tác đào tạo của Nhà trường, mà còn được ứng dụng cho sản xuất tại một số địa phương. Điển hình là các đề tài: Xây dựng chương trình đào tạo liên thông; Công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn; Tin học hóa quản lý nhà trường… Đặc biệt, có một số đề tài do sinh viên làm chủ nhiệm, tiêu biểu là đề tài “Ứng dụng vi điều khiển dòng họ AT89 để điều khiển cơ cấu tự động cuốn dây phơi” của sinh viên Nguyễn Mạnh Trường – lớp Cao đẳng Điện tử K13 đã được nghiệm thu xuất sắc.

Ngay trong thời kỳ này, Nhà trường đã ý thức được hội nhập quốc tế và khu vực là việc làm cần thiết, do đó đã chú ý đẩy mạnh và tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo với các trường và các tổ chức n­ước ngoài, như: Học viện Công nghệ Rajamangala (RIT) của Thái Lan, Trung tâm Đào tạo IHK Dresden của CHLB Đức, các Tổ chức AOTS, JODC của Nhật Bản, Trường Đại học Kinh tế tài chính Vân Nam – Trung Quốc… nhằm cập nhật và chuyển giao công nghệ mới, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng đội ngũ, cũng như khai thác mọi nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất và hiện đại hóa các phương tiện, thiết bị dạy học.

Nhà trường đã thực hiện tốt mục tiêu gắn đào tạo với thực tế sản xuất bằng hoạt động liên kết với các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, như: Công ty Dệt Nam Định, Công ty Dệt Huế, Công ty Dệt Nha Trang, Công ty Dệt Hà Nội, Công ty Dệt 8/3, Công ty Bia Hà Nội, Công ty Bia Na Đa, Công ty May Nam Định, Công ty May xuất khẩu Nam Định, Công ty May 10, Công ty Cơ khí Thăng Long, Viện Dệt May, Công ty Giấy Bãi Bằng, Viện Giấy và Xenluylo, Viện Công nghiệp thực phẩm… để sử dụng những thiết bị mới, công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất tiên tiến phục vụ cho thực hành và thí nghiệm của sinh viên.

Để công tác quản lý chất lượng đào tạo đạt kết quả cao, Nhà trường đã đưa ra các biện pháp, những quy định cụ thể về tiêu chuẩn hóa những nội dung đào tạo và quy trình xét duyệt đối với giáo viên tham gia thỉnh giảng; tổ chức thi và kiểm tra theo ngân hàng đề thi; tiến hành thanh tra trước khi bắt đầu mỗi kỳ thi; tổ chức thi lý thuyết “3 chung” đối với tất cả các môn học; thi thực hành được gắn với sản phẩm đưa ra thị trường;… Đẩy mạnh công tác quản lý HSSV, tổ chức các đợt sinh hoạt giáo dục và phân loại định kỳ, thường xuyên liên hệ với các gia đình thông qua hệ thống mạng, để thông báo tình hình và phối hợp quản lý, đồng thời tổ chức các hoạt động phong trào nhằm thu hút để đào tạo toàn diện đối với HSSV. Kết quả khảo sát cho thấy, trên 85% học sinh tốt nghiệp ra trường đã có việc làm và được các cơ quan, doanh nghiệp tiếp nhận đánh giá cao.

Đồng bộ với các giải pháp trên, Nhà trường đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất. Trong khoảng thời gian 10 năm, Trường đã cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới nhiều hạng mục công trình như: Các giảng đường C, D, K; xưởng thực hành 3 tầng; nhà làm việc 9 tầng tại cơ sở Hà Nội; giảng đường A1; nhà ăn; nhà làm việc của giáo viên; nhà Hành chính A5 tại cơ sở Nam Định;… đã tạo được cảnh quan môi trường ở cả 2 cơ sở khang trang, sạch đẹp. Trường cũng tiến hành mua sắm thêm nhiều trang thiết bị hiện đại, như: Hệ thống máy CNC cho ngành Cơ khí, máy thiết kế mẫu và giác sơ đồ tự động cho ngành May, hệ thống máy may chuyên dụng điều khiển bằng điện tử của Nhật Bản, máy so màu quang phổ và thí nghiệm nhuộm mẫu nhỏ cho ngành Nhuộm, đặc biệt là xây dựng hai hệ thống thư viện, trong đó có thư viện điện tử, hệ thống phòng họp cầu truyền hình trực tuyến giữa hai cơ sở,… đáp ứng cơ bản yêu cầu đào tạo của Trường trong giai đoạn mới.

Bên cạnh đó, Nhà trường đã tập trung chỉ đạo phát triển các hoạt động thực tập kết hợp với lao động sản xuất và tăng cường dịch vụ đào tạo trong khuôn khổ cho phép để tăng thêm nguồn thu phúc lợi cũng như tạo nhiều việc làm cho cán bộ giáo viên, đưa mức thu nhập bình quân liên tục năm sau cao hơn năm trước.

Nhà trường cũng thường xuyên tổ chức tham quan vào các dịp nghỉ hè, ngày Lễ, Tết cho cán bộ, giáo viên và chăm lo cải thiện điều kiện ăn ở, sinh hoạt cho học sinh sinh viên khu nội trú, đồng thời chỉ đạo và tạo điều kiện cho Công đoàn và Đoàn Thanh niên tăng cường các hoạt động văn hóa thể thao lành mạnh cũng như các hoạt động giao lưu trong học sinh sinh viên giữa 2 cơ sở và các đơn vị liên kết dưới các hình thức thi đấu thể thao, biểu diễn văn nghệ, cắm trại và tham gia các cuộc thi tìm hiểu do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức… Các hoạt động trên đã thực sự tạo nên không khí đoàn kết, phấn khởi và yên tâm công tác trong Nhà trường.

Đánh giá kết quả 11 năm đào tạo cao đẳng của Nhà trường, chúng ta có thể vui mừng nhận thấy: Đây là thời kỳ phát triển mới của Nhà trường sau 40 năm vững vàng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cũng là thời kỳ thể hiện và phát huy văn hóa truyền thống, là thời kỳ có tốc độ phát triển nhanh nhưng chắc chắn và bền vững, tạo nền tảng đáp ứng cho giai đoạn đào tạo đại học sau này.

GIAI ĐOẠN 1

1956 – 1991

Nhà trường hình thành, phát triển

Ngay từ năm 1956, sau thời kỳ cải tạo XHCN, đất nước bước vào công cuộc khôi phục phát triển kinh tế ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước ta đã củng cố và phát triển giáo dục, đào tạo, với việc thành lập hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Trường Trung cấp Kỹ thuật III là một trong số những trường THCN được thành lập trong thời kỳ đó, với nhiệm vụ đào tạo và cung cấp nguồn cán bộ kỹ thuật cho ngành Công nghiệp Nhẹ buổi ban đầu.

Xem thêm

Ngày đầu thành lập, Trường có trụ sở tại phố Hàng Sũ – thành phố Nam Định, với nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, phương tiện, kinh nghiệm đào tạo. Tập thể cán bộ giáo viên, học sinh của Trường đã sát cánh cùng nhau vượt qua tất cả. Trường đã hợp tác với các chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô, với các cơ sở sản xuất trong nước để xây dựng chương trình, bài giảng, tổ chức đào tạo những khóa học đầu tiên. Ba khóa đầu chỉ với gần 200 học viên ngành Dệt – Sợi, nhưng đó lại là những hạt giống quý, bởi ngay sau khi ra trường, những học viên này đã bắt tay vào việc xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp đầu tiên của ngành Công nghiệp Dệt Sợi Việt Nam và từ đó, họ đã trưởng thành, nhiều đồng chí đã được giao đảm nhiệm những chức vụ quan trọng của Ngành, của Nhà nước. Khi về làm việc với Trường, nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của các cơ quan trung ương đều xác định: Đây là một cái nôi đào tạo cán bộ cho ngành Công nghiệp Nhẹ buổi ban đầu.

Từ chuyên ngành Dệt – Sợi, Trường đã mở ra 13 chuyên ngành, gồm: Cơ khí, Lò hơi, Đường, Mỳ chính, Tinh bột, Muối, Giấy, Chế biến gỗ, Kiến trúc, Thiết kế hội hoạ,… Quy mô đào tạo đã tăng hơn 500 học sinh/năm. Nhà trường được chuyển đến địa điểm 353 Trần Hưng Đạo và đổi tên thành Trường Trung cấp Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ. Một vinh dự lớn trong thời kỳ này là Trường đã được Bác Hồ chỉ đạo cho mang tên ngoại giao: “Trường Trung cấp Kỹ thuật Sekou Toure” – tương xứng với Trường Trung cấp Kỹ thuật Hồ Chí Minh của nước Cộng hòa Ghi Nê Bit Xao, do Tổng thống Sekou Toure đặt tên. Cơ sở vật chất của Trường đã được xây dựng khang trang, đẹp đẽ.

Năm 1965, để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước, sự lớn mạnh của Ngành, cũng như để chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, leo thang ném bom miền Bắc, Nhà trường đã được tách thành 3 trường:

  • Trường Trung học Kỹ thuật Cơ khí vật dụng Hà Bắc;
  • Trường Trung học Kỹ thuật Muối Đồ Sơn Hải Phòng;
  • Trường Trung học Kỹ thuật Dệt Nam Định.

Năm 1969, giặc Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, thầy và trò lại trở về Trường tiếp tục nhiệm vụ của mình, phát triển công tác đào tạo, phục vụ kịp thời cho công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất của Ngành. Địa bàn tuyển sinh đ­ược mở rộng khắp miền Bắc, không những đào tạo hệ tập trung tại Trường, mà còn phát triển mạnh hệ tại chức, đại học chuyên tu, cung cấp cán bộ kỹ thuật cho các nhà máy trung ương và công nghiệp địa phương, điển hình là chương trình đào tạo phục vụ cơ khí nhỏ cho các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình…

Năm 1971, thực hiện chủ trương vừa nghiên cứu vừa đào tạo, Trường được nhập với Viện Công nghiệp Dệt Sợi thành Viện Dệt Sekou Toure. Công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học đó gắn kết với nhau đang trên đà phát triển thì cuối năm 1972, giặc Mỹ lại leo thang đánh phá miền Bắc lần thứ hai, một lần nữa, Trường lại phải đi sơ tán. Bom Mỹ đã tàn phá Trường rất nặng nề, phá hỏng hầu hết nhà xưởng, phòng thí nghiệm và gây thương vong cho nhiều cán bộ, giáo viên. Đầu năm 1973, ngay sau khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc lần thứ hai, thầy và trò lại trở về Trường bắt tay vào xây dựng lại từ đống đổ nát. Nhà trường đã nhanh chóng khôi phục, xây dựng lại giảng đường, nhà xưởng, phòng thí nghiệm để tiếp tục giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.

Năm 1975, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn thống nhất. Trước yêu cầu mới là nghiên cứu khoa học và đào tạo phải đáp ứng kịp thời cho cả hai miền, nên Viện Dệt Sekou Toure được tách ra thành Viện Công nghiệp Dệt Sợi và chuyển về Hà Nội (đồng thời thành lập thêm Phân viện tại Tp. Hồ Chí Minh) và Trường Trung học Kỹ thuật Dệt ở lại Nam Định có nhiệm vụ chi viện cán bộ, giáo viên cho các trường phía Nam.

Những năm từ 1975 đến đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước là giai đoạn cả nước bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả sau chiến tranh. Nền kinh tế nước ta bị khủng hoảng nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đã ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung và Nhà trường nói riêng. Do mục tiêu đào tạo trung học chuyên nghiệp đứng trước nguy cơ bị phá vỡ do bị thu hẹp, Bộ Công nghiệp Nhẹ đã cho nhập Trường Trung học Giấy Việt Trì, Trường Cán bộ quản lý Bộ Công nghiệp Nhẹ và hệ Trung học May ở Trường May Dâu Keo (Gia Lâm) về Trường, với tên chung là Trường Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ Nam Định và sau đó vào năm 1991, được đổi tên thành Trường Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ Nam Định. Trong thời kỳ đặc biệt khó khăn này, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường đã tập trung chỉ đạo khơi dậy tính tự lập tự cường, phát huy cao độ trí tuệ và tài năng của cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức và học sinh sinh viên, nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục khó khăn để ổn định đời sống và nghiên cứu đổi mới mục tiêu phát triển Nhà trường. Nhiều hoạt động sáng tạo đã được tiến hành rất sôi động, điển hình là phong trào “Đào tạo kết hợp”. Các chương trình đào tạo của Nhà trường gắn với sản xuất tại xưởng trường và các nhà máy, xí nghiệp trong Ngành. Hàng vạn sản phẩm đ­ược cung cấp ra thị trường mang lại hiệu quả kinh tế cao đã góp phần cải thiện đời sống của cán bộ, giáo viên và học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường. Địa bàn đào tạo của Trường được mở rộng đến các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… Nhà trường cũng đã đào tạo cho nước bạn Lào và Campuchia trên 200 cán bộ trung cấp kỹ thuật. Trong quá trình đào tạo kết hợp, Nhà trường đã chỉ đạo các bộ môn bám sát yêu cầu của sản xuất để đổi mới nội dung đào tạo, kiên quyết giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo bậc trung học chuyên nghiêp, đồng thời thai nghén những mục tiêu cao hơn, phù hợp với sự phát triển của kinh tế – xã hội. Vì vậy, Trường vẫn phát triển bền vững trong bối cảnh mà có nhiều trường trung cấp chuyên nghiệp phải giải thể hoặc xuống đào tạo nghề.

Có thể nói, giai đoạn này là giai đoạn tạo lập văn hóa truyền thống của Nhà trường, đó là: kiên định mục tiêu, đoàn kết sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ý chí tiến công cách mạng, vươn lên không mệt mỏi, luôn luôn đi đầu và đổi mới, giữ vững kỷ cương nền nếp, đạo đức người thầy. Do đó, Trường luôn đạt nhiều thành tích, là lá cờ đầu trong giáo dục chuyên nghiệp của ngành Công nghiệp Nhẹ và tỉnh Hà Nam Ninh.